Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 3 tháng 1, 2012

Origami ngày ấy!


 
"my hands are small, i know, but they're not your, they are my own..."

Anh quen nàng trên một diễn đàn, dạo ấy nàng đang học tận bên trời Tây. Anh tặng nàng nhiều thơ lắm, và cả những bức vẽ nữa, nàng tỏ ra là một cô gái nhạy cảm, những PM gửi cho anh nàng viết thật dịu dàng.
Anh là một thằng đàn ông buông thả và ngông như hầu hết những thằng họa sĩ nửa mùa biết làm thơ khác. Những nhà tâm lý học gọi anh là nạn nhân của căn bệnh rối loạn hoặc mất kiểm soát chức năng suy nghĩ nhưng bạn bè thì đơn giản hơn, họ gọi anh là thằng khùng, một số cô gái lại gọi chệch đi là Lão Hâm. Căn bệnh ấy....

Sinh nhật anh nàng gửi về một hộp quà xinh xắn, trong hộp chứa tất cả những bài thơ của anh đã viết tặng nàng, nàng đã chép lại rất cẩn thận trên những tờ giấy lụa thơm bằng nét chữ thanh tao của nàng, kèm theo đó là những chú hạc giấy Origami, phải đến hàng trăm con. Nhận xong anh chỉ cười nhẹ rồi bật máy reply:
"Tôi viết những bài thơ này là để tặng cô, chúng chả có ý nghĩa gì với bản thân tôi. Còn những con hạc giấy thì tôi ngán ngấy từ dạo học lớp 6 lớp 7 rồi, cô trẻ con quá đỗi, thà cô cứ tặng cho tôi một cái bít tất hẳn ý nghĩa hơn nhiều".
Cảm thấy hơi nhẫn tâm anh định edit nhưng rồi chặc lưỡi kệ. Những PM sau đó nàng cũng chẳng nhắc gì đến chuyện đó nữa, anh lấn cấn trong lòng một đợt rồi cũng quên bẵng đi. Cho đến ngày nàng về Việt Nam, đó là ngày cả diễn đàn họp mặt...
Cả nhóm đi được một quãng lại phải dừng lại chờ nàng đạp xe tới sau. Anh biết nhà nàng rất giàu, phải nói là cực giàu, hà cớ chi lại thích một mình một kiểu lóc cóc cái xe đạp đi họp mặt, thích trội phỏng?. Đợi đến khi nàng đạp xe tới nơi anh nói bâng quơ nhưng ý để cho nàng nghe " bên Tây đi ô tô quen rồi, về đi xe máy chắc khó nhở " Có vài tiếng cười khúc khích nửa miệng hùa theo anh. Nàng cúi đầu đi vào quán, mặt buồn rười rượi. Ghét vật, cứ đốp chát lại một câu có dễ chịu hơn không cơ chứ!
Ôm cái tâm trạng bứt rứt ấy anh uống một trận hết mình với nhóm bạn online, uống đến khuya, đến sướt mướt người. Không biết anh đã giơ tay chào tạm biệt bao nhiêu đứa trong nhóm bạn nữa, chỉ đến lúc bà chủ quán xin phép nghỉ, móc ví gửi tiền ra về, chỉ thấy một mình nàng đứng ngoài của quán bên chiếc xe đạp. Trời mưa tầm tã...Kệ cha mưa, anh phăm phăm bước đi..
- anh, đi cùng em về, anh có đi xe đâu, mưa to lắm.
- Mặc xác tôi.
Rồi anh lại khật khưỡng nhấc chân.
- không được..
Nàng chạy theo nắm lấy tay anh, anh giận dữ quay lại, đôi mắt đang vằn đỏ nhìn xuống đôi tay nàng chợt thảng thốt. Đôi tay nàng bị dị tật bẩm sinh, những ngón tay díp cụp vào nhau, gắng gượng lắm mới nắm được bàn tay anh... Bàn tay này đã nắn nót chép hết những bài thơ của anh , đã xếp đến hàng trăm con hạc giấy để nhóm một ước mơ online... Anh đuỗn người từ từ ngước mắt nhìn vào mặt nàng, nàng lặng im, anh lặng im. Còn gì để nói nữa đâu, những giọt mưa đã nói hết rồi, anh siết nàng vào lòng ...trời vẫn mưa. Mà sao mưa mặn mòi đến thế???

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2010

Thiên đường của Côi



(Ám ảnh Nguyễn Ngọc Tư)

Hôm nay quá xá là vui, nộp xong xuôi tiền vé số gốc cho cô Thủy, Côi còn hẳn ba chục ngàn. Ba chục ngàn là nhiều lắm à nha. Côi sẽ mua cho thằng Cút bát Phở Hà Nội. Nó ốm hai ngày nay rồi mà toàn phải ăn cháo loãng hà. Tội nghiệp, đêm qua người nó nóng như than vậy đó, mà trời lạnh như vầy…
Ông Trời tự nhiên ác nhơn thiệt. Mua xong bát phở, Côi định chạy ù về nhà thì lại đổ mưa, mưa to quá, từng đợt từng đợt như ai lấy gầu sòng mà tát xuống mặt đất vậy. Đành phải ngồi thu lu bên hiên Nhà Hát tạm chờ thôi, chốc về hâm lại bát phở cho nóng, đang ốm mà đựơc ăn bát phở nóng cho nhiều tiêu bột ra mồ hôi là thằng Cút khỏe liền hà.
Nghĩ cám cảnh, hai thằng mồ côi ở với nhau đã non nửa năm nay , Côi còn nhớ cái ngày thằng Cút cứu nó thoát khỏi bọn thằng Hùng bên Cầu Ông Lãng, bữa đó người nó bị đánh bầm dập mà không kêu gì, còn đưa Côi về nhà ở cùng...

Ủa, ai vậy cà? rõ cái dáng thằng Cút mà. Liêu xiêu trong mưa, thằng Cút nom như cái nấm vậy, đầu nó đội cái nón to bự, chắc là mượn của bà Thanh bán xôi đầu ngõ:
-         Áo mưa nè, tao thấy mưa dữ quá, sợ mày hổng về được nên mang áo mưa ra.
-         Ngu dữ vậy mày, còn ốm mà mắc mưa là "biến trứng" á, không khoa học gì hết trơn à.
-         Nhằm nhò gì, hồi còn ở quê mưa vầy tao còn ra tắm cả ngày đâu có sao.
-        Mày ăn phở luôn đi, tao mua cho mày á, hôm nay bán ngon ơ nghen. Hết sạch vé luôn rồi.
Thằng Cút ngồi lom khom húp xì xoạp tô phở trong cái xặp lồng cáu bẩn, chốc chốc lạ đưa tay lau mồ hôi trán, cười tươi rói. Chợt, nó ngừng ăn, ngồi bệt xuống, mặt tái mét:
-         Chắc tao xỉu quá mày ơi, sao chóng mặt vậy nè…
-         Đã bảo mày rồi mà…

Cái cặp lồng rơi đánh "cộp" xuống sàn hiên, thằng Cút đổ cả người vào côi, xuội lơ, người nóng như lửa...
10 phút, 20 phút, chẳng có ma nào đi ngang qua. Kể cũng lạ, bình thường giờ này đông người lắm mà. Hôm nay mưa sao vắng le như nghĩa địa Ông Dần dưới miệt vậy. Thằng Côi thấy lo quá à...

Có ánh đèn sáng quắc rọi tới, có xe rồi. Ngồi trên xe là một cô gái, người đâu mà đẹp như Cave vậy đó, giống cổ tích à nha. Lúc khó khăn là cô Tiên đến liền, nó vẫy:
-         Cô ơi!
-         Sao vậy nhóc?
-        Bạn con bị xỉu à, nó nóng quá, cô cho chúng con quá giang qua bệnh viện với!
       -      Xí xọn quá mầy, bày đặt bệnh viện làm chi cho cực, ngồi xíu tạnh mưa về nhà nằm khỏe re thôi, cô còn công chuyện.
Rồi cô Tiên phóng xe mất hút. Ờ há, người như vầy, xe đẹp như vầy ai lại để mình ngồi cạnh, dơ dáy cả quần áo người ta...
Mưa không ngớt chút nào hết trơn, càng lúc càng to, lác đác mấy cửa hàng cạnh đó đã đóng cửa tắt đèn. Thằng Cút thở mỗi lúc một gấp, để thêm nữa chắc chết quá...
Lóng ngóng khoác áo mưa lên người thằng Cút, trầy trượt dăm bận nó mới cõng được thằng bạn lên lưng, xăm xăm chạy hướng bệnh viện, giờ chắc đến bản tin cuối ngày rồi đa...

Nó chạy miết, thoảng hoặc có chiếc xe phóng ù qua, nó định gọi lại thôi. Ai mà rảnh tay lúc mưa gió vậy chớ? Bệnh viện  kia rồi, chân nó bước lẹ hơn. Nó thấy cái biển sáng trưng có chữ Cấp Cứu, đó lại quên, biểu đi xin cô Giang cho thằng Cút học chữ cùng mà sáng nay lại quên mất tiêu. Đành đợi nó khỏe rồi hai thằng đi một thể... Thằng Cút này cũng khôn à nha, nãy trên đường nó còn nóng ran mà biết đến viện rồi người đỡ nóng hẳn, ngủ lì vậy đó, không rên như hồi đầu. Nó chạy te tái khắp các phòng, thấy có ông bác sĩ ngồi tận cuối hành lang hút thuốc, bác sĩ này già ghê ta:
-         Bác sĩ, ông cứu bạn cháu với, nó xuội lơ từ nãy hà.
Ông bác sĩ đi theo nó lại gần thằng Cút, cầm tay nó bắt mạch, khuôn mặt thảng thốt vạch mímắt nó lên. Ông quay sang hỏi Côi:
-         Nhà bạn con ở đâu?
-         Dạ, nó hông có nhà, nó đành giày, con bán vé số, hai đứa con ở với nhau. Nó có sao không hả ông?

Ông bác sĩ quay mặt đi một chốc, lập cập châm thuốc, rồi ông từ từ bảo nó:
-         Bạn con không sao, con về ngủ đi. Để đó ông chích thuốc cho bạn con.
-         Con muốn ở cạnh nó được không ông?
-         Không được, bệnh viện không cho con ở cùng đâu. Sáng mai con qua nghen.
Lưỡng lự một chốc rồi thằng Côi cũng gật đầu đi về, ờ rồi mai nó lại mua bát phở khác cho thằng Cút. Bệnh viện có ông bác sĩ như vầy là an tâm rồi...
Bà Thanh lách cách dọn hàng xôi đã thấy thằng Côi cầm cái cặp lồng đi rồi, hỏi nó đi đâu nó biểu vào viện chăm thằng Cút. Bà lắc cái đầu dúi vào tay nó tờ 10 ngàn, nó cảm ơn cười toe...

Chà, mới sáng sớm mà bệnh viện đã đông nghịt hà, hổng bù cho tối qua lạnh teo. Nó chạy tìm mãi mới thấy ông bác sĩ đêm qua, nó vồ vập hỏi:
-         Bạn con đâu hở ông!

Dường như sáng nay ông chờ mỗi nó. Ông kể cho nó chuyện vui lắm, sáng sớm nay có người vào viện, nhận ra thằng Cút là họ hàng nên đã đón về nuôi, thằng Cút nhắn lại hôm nào khỏi hẳn sẽ qua thăm nó...

Chuyện mừng vậy mà nó nghe xong hổng thấy vui gì hết trọi vậy, thằng này tệ thiệt, sao không đợi mình lên rồi đi chớ...

Nó chào ông bác sĩ rồi thất thểu ra về, thôi từ giờ là ở một mình rồi. Biết đến ngày nào có người nhận ra nó là con cháu há? Hay là nó ốm rồi dầm mưa??? Về nhà họ hàng ở rồi thằng Cút sướng như ông hoàng nhỉ? Trên tivi ví như gì ấy nhỉ, à Thiên Đường. Nó cũng muốn được ở Thiên Đường như thằng Cút vậy đó... Có tiếng còi hú của xe tang lễ bệnh viện chạy hướng nghĩa trang, lại có ai vừa mất rồi cà???

Chút lòng viếng cố nhà văn Vũ Trọng Phụng



(nhân đọc toàn tập Vũ Trọng Phụng)

...14h ngày 11 tháng 10 năm 1939 


Ca Lầu Thúy Loan nườm nượp kẻ vào người ra. Giai cũng như gái ai nấy mắt đỏ ngầu, bước như mộng du. Tất thảy họ đều mê mệt trong vòng tay nàng Phù Dung.
Trong một buồng nhỏ, Ký Phụng lim dim đôi mắt, đưa tay ra hiệu cho thằng bồi tiêm cho mình điếu nữa, điếu này đã là điếu thứ 7. Cơn đau tức nơi lồng ngực đã thuyên giảm đi nhiều.Từ chiều qua Phụng đã thấy kiệt sức hẳn, biết rằng Thần Chết đang ngồi nơi của đợi mình. Phụng nản lắm. Trong chiếc đầu mộng mị lâng lâng bởi khói thuốc. Phụng nhớ lại những biến cố đời mình...
...sinh năm 1912. Cha mất vì bệnh lao khi mới được 7 tháng, Phụng được bà mẹ tần tảo nuôi cho ăn học. Sau khi đỗ bẳng tiểu học, lúc 16 tuổi, Phụng phải thôi học để đi làm kiếm sống. Ban đầu làm thư kí đánh máy cho hãng buôn Gô-đa, được hai tháng thì bị đuổi, trở thành thất nghiệp. Ít lâu sau, đánh máy chữ cho Nhà in Viễn Đông, và hai năm sau lại bị đuổi. Từ đó chuyển hẳn sang làm báo, viết văn chuyên nghiệp. Mặc dù lao động cật lực nhưng ngòi bút không đủ nuôi cả gia đình. Đầu năm ngoái, bị lao phổi, không có tiền chữa bệnh. Nghe theo lời thầy thuốc, ông hút thuốc phiện để kéo dài sự sống.
***
... tiếng nhạc tân thời của chiếc máy hát từ tầng dưới vẳng lên đoạn ngôn từ tục tĩu bằng tiếng Pháp : " .. hỡi bọn đàn ông! Tay chúng ta sinh để làm gì nếu không có bờ mông phụ nữ". Phụng khó nhọc nhấc người lên, móc hầu bao lấy 1 đồng đưa cho thằng bồi. Uể oải rời khỏi quán, leo lên một chiếc xe cao su bảo chú phu kéo về nhà. Đến Ngã Tư Sở, Phụng xuống, muốn đi bộ một lúc cho thư thái.
Sáng nay Phụng mới nhận được 10 đồng nhuận bút. Đã mua cho mẹ nó tấm vải và hộp sữa cho con. Tội nghiệp thằng bé mới ngoài tháng, người quắt queo như con mèo hen, đêm đến khóc hờ suốt. 
-         Thầy nó đã về - vợ Phụng ngước đôi mắt đỏ ngầu vì mất ngủ, thị thường thức đêm để thêu thuê cho hàng may đầu ngõ.
-         Ừ , tôi có mua cho nhà tấm vải, may lấy bộ nào tươm tươm mà mặc. Nhìn nhà nó vất vả nhiều, tôi thương lắm, uất lắm. - Phụng trao gói quà cho vợ kèm theo tiếng thở dài. 
-         Thầy nó cứ vẽ ra làm gì, để đấy còn lo thuốc thang, độ này em thấy thầy nó gầy đi nhiều lắm.
-         Từ độ nào tôi có béo đâu, nhà cứ cả lo mà nom làm vậy. Pha hộp sữa cho thằng cu, tôi cả mệt nằm một lúc. 
-         Thế thầy nó không ăn lấy chút gì ư? Tôi có nấu bát chóa hoa, có cả trứng gà sáng nay Thím Hồng gởi biếu, thầy nó ăn đi hẵng rồi ngủ.
-         Mình ăn đi, trưa nay tôi có việc qua sở Liêm Phóng người ta mời cơm rồi. 
-         Thì để đấy chiều em hâm lại vậy, em đã ăn no rồi.
Phụng không nói nữa, đi vào buồng nằm vật ra giường, vợ Phụng nói thế thôi, chứ Phụng biết thị đã ăn gì no cho cam, cùng lắm thì củ khoai, cái bánh dò 2xu bán rao ăn đủ đỡ run đường thêu.
Nằm mãi cũng chán , Phụng vớ lấy tập bản thảo "Người tù được tha" đọc qua một lượt, chán quá. Phụng chưa biết gỡ nút cho nhân vật thế nào. Cứ mỗi lần cầm bút, nghĩ đến cảnh vợ con nheo nhóc là Phụng lại đặt bút xuống, cả tuần nay Phụng nhiều lắm mới viết được độ non chục trang...
... tiếng đứa nhỏ ré lên khi có sấm làm Phụng giật mình . Trời lại sắp mưa nữa rồi. Phụng thấy ngực đau dữ dội. Phải có thuôc phiện mới mong hãm lại được. Phụng lôi ví ra đếm. Còn 7 đồng 3 hào nữa. Rồi thì tiền gạo, tiền chợ tháng này... tháng sau, sau nữa, ai lo cho vợ Phụng, con Phụng. Phụng khóc, nước mắt đỏ như máu. Phụng lò đầu ra cửa buồng gọi với:
-         Nhà nó! vào thầy bảo.
-         Vợ Phụng xếp lại đồ thêu, tất tả chạy vào, dáng chạy nom đến là khổ. 
-         Nhà nó cầm tiền đi, có khi tôi không qua khỏi hôm nay mất.
-         Thầy em! thầy em đừng nói thế. 
-         Tôi biết bạo bệnh, nhà nó ẵm con vào đây cho tôi bế một lúc ...
Bấy giờ đã là 12 giờ đêm , đứa bé ngằn ngặt khóc trên bụng , Phụng ngước cặp mắt mệt mỏi nhìn con . Cố nựng một câu mà nghẹn giọng . Vợ Phụng mắt nhòe nhoẹt ướt, cứ rấm rứt khóc cầm tay Phụng áp vào vòm ngực gầy xác xơ. Đứa bé chửa biết gì, thò tay với vào chiếc bút găm nơi ngực áo . Chiếc bút rơi xuống sàn nhà... Phụng thấy thèm một điếu thuốc, nhắm hờ cặp mắt, bất giác thấy người nhẹ bẫng, bay lên...
Ngã Tư Sở rạng sáng ngày 12/10/1939, trong tiếng mưa xối xả bật lên một tiếng kêu đứt ruột:
-  Thầy em ơi! 


(Vinh 8/8/2005 === NguyenZZ!)

Thứ Tư, 17 tháng 11, 2010

Gần như sự sống



(Rừng Pù-mát đầu năm Ất Dậu)



... Bàn tay lão già trườn qua cổ cô, rờn rợn lướt qua thung lũng vệ nữ, chạy dài xuống bụng. Đan Nhi khiếp đảm kêu lên. Cô choàng tỉnh, hoá ra chỉ là giấc mơ. Cô dần mở mắt, cái cảm giác nhồn nhột vừa nãy bây giờ còn đáng sợ hơn nhiều, một con trăn gấm đang lướt nốt phần đuôi còn lại qua vế đùi non. Cô nín thở, chờ đợi. Tiếng thở phào chưa kịp dứt khi nhìn thấy con trăn trườn xa dần thì Đan Nhi lại nhìn thấy một khung cảnh ghê rợn gấp bội lần. Xung quanh cô nhung nhúc những rắn là rắn, con này oằn xéo quấn quanh con kia, trông như lũ dòi đang ngụp lặn trong xác con chuột thối. Sự lạ là tuy rất gần nhưng chẳng có con nào có ý định tiến lại gần hay làm hại cô.

Đan Nhi bình tĩnh dần, đến bây giờ cô mới nhìn lại tình cảnh của mình. Tại sao cô lại ở đây? Cô không biết, khi bị lão chủ rượt đuổi cô sẩy chân rơi qua vách đá. Cảm giác cuối cùng cô còn nhớ là nước. Nước ngập ngụa mặt mũi... còn bây giờ, cô đang nằm trên một đám lá cây tươi, toả mùi hăng hắc, trong một chiếc hang đá. Có vẻ đây là nơi náu thân của một người khác, trên tường cô nhìn thấy những tấm da hươu, da báo, treo cạnh đó là một chiếc đùi bò hoặc đại loại thế đung đưa... rồi đến bộ quần áo của cô... Đan Nhi giật thót mình, bây giờ cô mới nhận ra cô chẳng mặc gì ngoài chiếc quần con mỏng tang. Định bước lại lấy áo quần nhưng lại sợ lũ rắn. Cảm giác hoang mang lo sợ lại đến, con trăn vừa nãy cùng lúc cũng trườn gần đến phía cô, chiếc lưỡi dài đỏ ối thò ra thụt vào liên tục. Kinh hoàng, Đan Nhi hét lên:
-   Á Á Á ...

Tiếng hét của cô dội vào vách đá, gây nên những chấn động mạnh, lũ rắn ngừng chuyển động, hàng trăm cái đầu ngóc lên, mang bạnh ra, phun lưỡi phì phì... Không còn biết gì nữa, Đan Nhi lại ngát đi lần nữa. Cô thiếp đi không biết bao lâu, rồi choàng tỉnh khi nghe những tiếng thình thịch như tiếng chân người chạy, cô co rùm người lại, vừa mừng lại vừa lo.

Ánh sáng nơi của hang bị che khuất, Đan Nhi nhìn thấy một người đàn ông bước đến gần, theo phản xạ cô đưa tay lên che ngực. Người đàn ông lừng lững bước qua lũ rắn, chúng tản dần cho ông bước qua, với tay cầm quần áo của cô, ông ném về phía Đan Nhi, giọng như ra lệnh:
-   Mặc vào.
-   Cảm ..cảm ..ơn ông - Đan Nhi lí nhí trả lời.

Quảng xịch hai con thỏ còn nhỏ máu vào góc hang, người đàn ông hỏi mà không nhìn:
-   Cô dậy lâu chưa?
-   Tôi ... tôi vừa dậy một lúc. Ông là ai?
-   Tôi không có tên, tôi sống cùng rắn. Dân bản gọi tôi là Ma Xà.
-   Sao tôi lại ở đây?
-   Sáng nay tôi ra suối thấy cô nằm dắt trong bụi sậy, tôi đưa cô về đây, vì quần áo ướt hết nên tôi hong hộ. Cô cảm thấy trong người thế nào?
-   Dạ, tôi thấy bình thường , hơi chóng mặt một chút.
-   Cô cứ nằm nghỉ ở đây một lát, tôi ra làm thịt thỏ, chắc cô đói quá thôi. Người đàn ông bước dần ra cửa rồi bất chợt ngoảnh lại:
-   Cô không phải lo lũ rắn làm hại, tôi nuôi chúng nó vả lại, loại lá cây cô đang nằm là thứ chúng rất kị. Cô yên tâm. Tôi đi một chút rồi quay lại.
-   Vâng, cảm ơn ông.

... Đan Nhi ngồi bó gối suy nghĩ, hình ảnh lão chủ quán với cái bụng ngồn ngộn mỡ lại hiện ra, kinh hoàng ...

Đan Nhi vốn là con gái của một gia đình ở miệt dưới, nhà mất bố từ nhỏ lại đông em, nghèo lắm, trong lần nghe lời bạn bè rủ lên vùng cao buôn vải thổ cẩm, cô trốn nhà đi theo, hi vọng kiếm được nhiều tiền về đỡ đần giúp mẹ. Nào ngờ lũ chúng nó chỉ là quân môi giới đưa người sang Trung Quốc. Đan Nhi may mắn thoát chạy rồi xin làm ở một quán ăn vùng cao để kiếm tiền mong ngày quay về. Nào ngờ lão chủ quán là một con dê già dâm dục, hết lần này lần khác chèo kéo cô làm cái chuyện nọ kia những lúc mụ vợ xao nhãng. Cho đến tối hôm qua, khi Vợ lão sang buôn Khen thăm Mế, hắn đã đòi cưỡng đoạt cô ngay lúc vừa vãn khách... Mới đó mà cô xa nhà cũng đã gần một năm Đan Nhi xa nhà...

Lão Xà bước vào, tay cầm bát cháo đang bốc khói, trao cho Nhi. Bây giờ cô mới nhìn rõ người đàn ông kì lạ này, anh ta còn trẻ, chắc cũng chỉ trạc 30, gương mặt góc cạnh và rắn rỏi, hai cánh tay để trần cuồn cuộn bắp thịt, chắc cuộc sống hoang dã đã cho anh ta một thể hình đẹp đến nhường vậy. Giọng nói chắc chắn không phải là người miền trên, Đan Nhi bán hàng ở vùng cao cô biết mà, người vùng trên nói khác lắm, không ai nói được rõ ràng và chuẩn như thế...

-   Cô ăn đi chứ, cháo Thỏ đấy, bổ lắm.
-   Vâng. Đan Nhi nhẹ đáp rồi dùng chiếc thìa làm bằng gỗ múc ăn dần từng thìa cháo. Cháo nóng làm mồ hôi cô vã ra, người nhẹ dần, Đan Nhi cảm thấy khoẻ hẳn. Người đàn ông vẫn ngồi bên chăm chú nhìn Đan Nhi ăn từng thìa cháo. Cô mạnh dạn hỏi chuyện;
-   Ông không phải là người vùng này phải không?
-   Phải mà cũng không. Tôi là dân làng Lệ Mật. Nhưng xa quê, sống ở đây đã tám chín mùa hoa ban rồi. Còn cô.
-   Tôi, à... em cũng không phải người ở đây.
-   Tôi biết. Nhưng vì sao lại đến nông nỗi này, nhà cô ở đâu, hay ở nhà ai trên Bản, để tôi đưa về.

Nước mắt chợt ứa ra, Đan Nhi tủi thân quá, cô muốn trút hết bầu tâm sự của mình cho nhẹ lòng... cô chậm rãi kể, mắt hoen đỏ, sống mũi phập phồng. Xà ngồi lặng nghe. Trăng nhú dần rồi nằm lặng trên ngọn Chưđờrây sáng dịu dàng. Không gian tĩnh mịch dần, chỉ còn nghe tiếng sột soạt của rắn, tiếng mang tác xa xa và mùi ngai ngái của hoa Pơ-Lang theo gió bay vào.

-   Cô cứ ngủ ở đây, sáng mai hẵng nghĩ đến chuyện đi đâu, về đâu, tôi lên rẫy nhé.
-   Nhưng...
-   Yên tâm. Con trăn lúc sáng là kẻ giữ nhà số một, đến gấu cũng phải nể nó. Cô cứ nghỉ đi, sáng mai tôi về. Đói thì cháo tôi để sẵn ở góc. Chào cô.

Tiếng chân xa dần, rồi lặng hẳn, còn lại trơ trọi trong hang, Đan Nhi bắt đầu hoạch định cho tương lai của mình...“...ngày mai... mình biết đi đâu, về đâu, tiền bạc đã không còn, vả lại, một năm rồi, không
biết Mẹ còn chấp nhận đứa con lầm lạc hư đốn nữa hay không? Rồi xóm giềng có nhìn cô bằng con mắt khác không?”
Những câu hỏi cứ vằn xoắn vào nhau rồi kéo Đan Nhi thiếp đi trong cơn mệt mỏi trí óc.


Ánh nắng sớm dọi vào mắt Đan Nhi làm cô tỉnh giấc. Đã thấy Xà ngồi tỉa bắp nơi cửa hang. Không thấy lũ rắn đâu nữa, chắc là chúng đi kiếm mồi. Đan Nhi ngồi dậy, khẽ đằng hắng. Xà quay lại, nhẹ cười:
-   Cô dậy rồi đấy à, ngủ có ngon không?
-   Dạ , cũng ngủ được à.
-   Cô đi xuống phía dưới một quãng, sẽ thấy suối, cô rửa mặt mũi đi rồi len ăn ngô cùng tôi.
-   Dạ vâng ... nem nép mình bước qua Xà, Đan Nhi đi thẳng bước ra bờ suối.
Xà dõi theo bóng cô cho đến khi khuất hẳn, cười ý nhị. Thực ra tối qua anh cũng ngủ đâu có ngon. Cảm giác lần đầu tiên được thấy thân thể người con gái còn ám ảnh anh mãi. Lại được nghe câu chuyện đời éo le của Đan Nhi, trong anh dâng lên một niềm là lạ. Xà sống một mình cũng đã gần 8 năm nơi heo hút này, lấy thịt thú rừng, ngô bắp, nếp nương làm lương thực. Đôi lần lên bản đổi da thú lấy mấy thứ đồ cần dùng. Cha mẹ anh mất cũng nơi đây, ngay bên sườn núi Chadơ-rưng kia thôi.

Đã thấy thấp hoáng bóng Đan Nhi quay trở lại, cô đi ngược hướng nắng sớm, mái tóc ngang vai ánh lên óng mượt, chiếc eo hắt đáy lưng ong, những dường cong dưới ánh nắng đẹp một nét diệu kỳ. Xà thấy hơi xót xa... dù sao, rồi cô ấy cũng ra đi.

-   Anh về đã lâu chưa?
-   Tôi về được hơn một lóng tre rồi.
-   Dạ
-   À, cô đã có ý định gì chưa?

Ngập ngừng không biết nói sao, Đan Nhi lí nhí: ... - em cũng chưa biết nữa.

Xà khấp khởi mừng thầm:

-   Cô cứ ở đây đến khi nào muốn đi, tôi cũng không nề hà gì đâu.
-   Cảm ơn anh... nhưng...

Nói được đến đó cổ họng Đan Nhi nghẹn đắng, rồi ra sao đây?
...
Thấm thoắt đã mấy mươi ngày mặt Trời và mặt Trăng thay phiên nhau dừng chân trên đỉnh núi, hàng ngày, Đan Nhi ở nhà giúp Xà phơi nếp, tỉa ngô, giặt giũ và may vá những bộ đồ xà cạp cũ kĩ. Hôm nọ Xà có mua cho cô mấy bộ đồ nữa, chắc là đổi lông thú cho dân bản trên mà có. Còn Xà, đêm nào cũng vậy, cứ đến khi con mang già tác lên ba tiếng như gọi bạn tình, là anh lại vác cung lên chòi nương để ngủ. Đan Nhi cũng thấy quý mến lắm người con trai của rừng, Xà cũng bắt đầu liếc trộm những lần Đan Nhi ngồi chải tóc ban sáng bằng chiếc lược sừng anh tạo bởi xương hươu.

-   Tôi đi lên rẫy nhé.
-   Vâng ạ.
Sẽ chẳng có chuyện gì nếu hôm ấy mưa nguồn không về muộn. Cơn mưa ào ngay xuống lúc Xà vừa bước ra khỏi miệng hang. Mưa rừng là dữ dội lắm, như vần vũ, nuốt chửng lấy cả không gian. Xà nhìn Đan Nhi ái ngại. Hiểu được tình cảnh của cả hai, Đan Nhi mạnh dạn:

-   Anh cứ nghỉ lại đây, tôi sẽ nằm góc kia cũng được.

Ở lại thì thó nghĩ, nhưng đi rừng vào lúc này bằng kinh nghiệm bao năm Xà biết là rất mạo hiểm. Anh đành ậm ừ cho qua chuyện.
Gọi là ngủ chứ cả hai đều không ai chợp mắt nổi một lúc...

-   Cô ngủ chưa?
-   Dạ chưa, anh cũng không ngủ được à?
-   Đan Nhi này...!
-   Gì hả anh?
-   Cô... cô có muốn ở lại đây cùng tôi mãi không?

Không có tiếng trả lời, có tiếng thở ngắt quãng Đan Nhi phân vân quá. Cô còn nặng lòng lắm với quê nhà, nhưng sự thực lòng đã thầm yêu anh Xà ân nhân tốt bụng.

-   Nước lên cao quá. Xà kêu lên thàng thốt.

Mưa suốt từ tối đến nửa đêm, con suối dâng lên mấp mé miệng hang, kiểu này nguy mất. xà chạy
ra ngó nghiêng rồi quay vào bảo Đan Nhi:

-   Đi, đi cùng tôi, không thì chết vì lũ rừng mất. Không kịp để cho Đan Nhi hiểu hết, Xà nắm lấy tay cô, vơ hết đồ đạc, nhét vội vào tay nải, kéo Đan Nhi chạy tốt ra giữa cơn mưa rừng cuồng nộ.

Hai người chạy mãi, chaỵ mãi lên cao, chừng một quãng con dao quăng. Thì đến chòi canh nương của Xà. Cái chòi lợp bằng lá cọ, nhỏ như một quán cóc miền xuôi.

Đan Nhi ngồi co ro vì lạnh, quần áo trên người lẫn trong tay nải đã ướt hết rồi, Xà chun môi thổi nhẹ vào cái bùi nhùi rồi nhóm một đống lửa nhỏ trên mặt chòi.

-   Trên này thì không sợ lũ nữa. Anh cười... nụ cười ngô nghe dễ thương đến lạ.
-   Cô hơ người đi cho ấm.

Đan Nhi nhẹ nhàng nắm bàn tay thô nháp của Xà. Và anh hiểu...

Mặc cho mưa gió vần vũ, hai trái tim khát bỏng yêu thương hoà tan vào nhau. Cơn lũ rừng có chăng cũng chỉ bằng như thế...

Mặt trời bắt đầu lên, sau cơn mưa bầu trời quang đãng đến lạ, lớp ngô non sau trận mưa thoả thích bắt đầu nhú lên những màn xanh... bắp nụ...

Khi bầu trời chối bỏ màu xanh


Chiều buông chầm chậm trên đê. Lão nhẩn nha bước trong cái rét cắt da cắt thịt của miền Trung khắc nghiệt, da sạm lại, xám ngoét. Duy chỉ có đôi mắt là vẫn nồng nàn lửa. Lão ngửa cổ lên trời, hít thật sâu vào lồng ngực cái ngai ngái của cỏ dại, rồi cứ để yên như thế hứng những li ti sương muộn, mắt lim dim. Một lúc lâu, nhứng giọt sương nhỏ bé kết thành từng giọt nước, đọng lại trong hốc mắt lão, qua cái lăng kính thiên nhiên ấy, lão bảo tôi lão thấy bầu trời xanh lắm... màu xanh của quá khứ... kí ức dội về từng đợt. Ấm nồng...

Tôi và Lão, 2 con người, 2 thế hệ khác nhau. Gặp nhau chỉ bởi một điểm chung là thích lên bờ đê ngoại thành heo hút này. Tôi còn nhớ cái lần đầu tiên tôi gặp lão. Một chiều u ám hơn hôm nay, tôi vòng ra ngoại hành với hi vọng tìm cho mình một khoảnh riêng tư để dấu nước mắt của mình, chỉ có cỏ biết mà thôi. Khi bước lên triền đê, tôi thấy một ông già trong bộ comple đắt tiền đang trả 20 nghìn đồng cho chú chăm bò để được leo lên lưng con bò một lúc. Thú thực lúc ấy tôi cũng có mong muốn tương tự như ổng. Tôi buột miẹng hỏi:


-  Bác ơi, sao bác lại thích ngồi lên lưng con bò ạ?

Lão trả lời, cũng không nhìn vào tôi mà hình như không trả lời vào câu hỏi của tôi. Giọng trầm ấm và oai vệ:

-  Ta mua một chút tuổi thơ. Câu trả lời nghe như một câu thơ mở, tôi ngẫm nghĩ rồi cũng nói bâng quơ theo lão:  “…Cỏ may dính vạt áo xưa nhói buồn…”

Lúc ấy lão mới ngoảnh lại nhìn tôi, lão cười mà nói : Cậu bé hay đấy, cũng đang tìm hình bóng của ai hả. Tôi cười không đáp. Lang thang một chiều cũng lão để rồi thành đôi bạn tâm giao.
Trở lại với buổi chiều hôm nay. Từ sáng Lão đã tự mình lái xe qua nhà hẹn tôi chiều nay ra đây, lão bảo hôm nay là một ngày đặc biệt. Vậy mà từ nãy tới giờ, tôi chỉ thấy lão trầm ngâm, không nói gì, hiểu tính lão tôi cũng cứ ngồi vậy mà chờ đợi. Phải đến gần 30 phút yên lặng như thế lão mới nói:

-  Hôm nay là kỉ niệm 35 năm ngày tớ gặp cô ấy, chú bé ạ.
-  Cháu cũng ngờ ngợ là một kỉ niệm của Bác, thế định cho cháu món gì đặc biệt đây.

Lão cả cười, Ta cho con nghe một bài Thơ, được không nào, rồi lão chầm chậm đọc:

À ơi, lãng du một đời
Nắng mưa phai màu tóc
Nếm đủ ngọt ngào môi cười,
mặn mòi nước mắt
À ơi , không quên nổi em

Bầu trời không còn xanh và nắng thôi lung linh
Một triền đê cỏ xót lòng trải mình man dại
Gió chưa qua thì con gái
Lẳng lơ đưa hương da quen
À ơi bài hát không tên

Em không lên cung Trăng - anh vẫn làm chú cuội
Níu gốc đa già - quá khứ... mỏi mòn trông.

Không gian lắng lại sau câu thơ cuối , lão rủ tôi đi chơi một bữa , gọi là kỉ niệm tình yêu. Lạ lùng sao, tôi chẳng còn hứng thú. 35 năm rồi lão vẫn còn nhung nhớ, còn tôi...?

Ngày mai, có lẽ tôi lại lên bờ đê để nhớ em... Ừ ,thì em không lên cung Trăng, vẫn thấy mình vui khi hoá thành chú Cuội. Chờ!

Thứ Hai, 15 tháng 11, 2010

Gió quê vẫn thổi

Trời nắng chang chang mà Thắm chạy đâu không biết! Xoan cắp cái nón te te, miệng là bàu tất tả chạy tìm con.
Biết ngay mà, nó lại ra ngoài cái chòi canh cá lồng của lão Nam "gàn". Nhác thấy bóng má, Thắm giật thót mình, len lén chạy đến bên Nam đang lui cui gỡ lưới, đồ như mong có người đỡ hộ cơn thịnh nộ của má. Chẳng biết lần này là lần thứ bao nhiêu nó không nghe lời nữa...
Nam cười hềnh hệch phô hàm răng trắng bóng, nó càng trắng tợn trên cả khuôn mặt và thân hình đen rám của gã:
-         Cô Xoan đừng mắng cái Thắm mà tội nghiệp, nó chỉ ngồi trong chòi, không ra nắng giỡn nước đâu mà lo.
-         Anh cứ chiều nó quen thân, rồi tui dạy nó có nghe đâu, hở chân ra là đi mất tiêu, báo hại tui năm lần bảy lượt chợn hết vía hà.
Thắm biết khi nào mà má nó nói mát rồi cúi xuống vân vê tà nón là nó hổng bị mắng nữa. Nó nhảy chân sáo đến bên má nũng liền, trẻ con dễ quên vậy mà, chẳng bù cho cái lúc lấm lét hồi nãy:
-         Má vào chòi ngồi má, chú Nam nói chốc nữa nấu canh cá lóc vông vang, má ngồi cho con ăn nghen má. Má...
Nam nói bâng quơ như để cho nước dưới hồ nghe vậy: Cô Xoan ngày xưa thích ăn nhất là canh cá lóc vông vang phải không ta?
Xoan nghe như có luồng điện chạy dọc sống lưng, phải vì đứng lâu giữa trời nắng trưa không mà mắt hoa lên vậy chớ, cô lặng đi vào chòi, ngồi bên mép chiếu, cầm cái nón quạt nhè nhẹ cho mình, cho con, gió hiu hiu lạ...
***
Cái tin hôm nay có thầy giáo trên tỉnh về dạy cho mọi người làm cả làng nhốn nháo, Xoan bỏ giở cái sàng chạy ra cái lều rộng dựng bên gốc đa mà các anh chị trong đoàn dựng mấy hôm rày, cũng vừa khéo gặp Nam quẳng vó chài chạy tới:
-         Rồi ông có học không?
-         Có chớ, biết cái chữ rồi mới sướng được phải hôn?
-         Thuộc lòng cả khẩu hiệu tuyên truyền rồi hen...
-         Thì ai đó dạy mà
Thầy giáo còn trẻ măng hà, chừng đâu hai mươi thôi đó, da mặt trắng bóc, búng cái chắc ra sữa liền. Thầy đứng nép một bên ông chủ tịch xã, mấy cô hợp tác chọc quê, cười khúc khích:
-         Trông vầy rồi có sống được cái đất đồng chua này không đó?
Mặt thầy đỏ rừng như mai con cua tháng 6. Ông chủ tịch huých đến mấy cái muốn vẹo sườn thầy mới ấp úng:
-         Tỉnh đoàn cử cháu, à… tôi về dạy bình dân cho xã mình, ngày mai ai muốn đi học thì đến lớp nghen.
Xoan là con ông Tú Hàn, từ bé đã được cha dạy cho nhiều chữ quốc ngữ, rồi tham gia hoạt động đoàn thể của làng của xã, ngày khai trường, Xoan cũng đi, cũng ngồi chung nhưng không học từ cái a, cái o như mọi người, thầy cho Xoan học một sách khác, Xoan còn giúp thấy đọc bài cho mọi người nữa.
***
Gió vẫn thổi dìu dặt trên ngọn tre làng, chiều lấy nắng đánh bóng con đường làng chênh chao, thầy nắm tay Xoan hỏi nhỏ:
       -         Rồi em có học lên không?
-         Em không biết nữa, rồi con má, còn ruộng vườn…
-         Sao đi nữa cũng phải học, rồi thày kèm cho em 
Những tối sau đèn nhà Xoan thường thức muộn, má Xoan lích kích nhóm lửa đêm, khi thì để nấu nồi chè kho, khi luộc củ khoai của sắn... Ông trời lắm khi mưa thiệt muộn, như hôm nào đã giữ chân thầy ở lại nhà Xoan...
Cả lớp tiễn thầy về tỉnh, nghe thầy hứa tháng sau trở lại. Ai cũng buồn, Nam buồn hơn cả khi thấy Xoan khóc, nước mắt chảy dưới hàng lá răm đã có vệt thâm thâm...
Thầy đi gần tròn năm thì mẹ Xoan mất, đứa cháu ngoại chưa ra đời đã cho bà một cơn sốc tim. Tang mẹ được vài hôm Xoan vô cảm ngồi nghe đoàn đọc biên bản kỷ luật. Nam cúi gằm mặt xuống bàn như thể đang nghe kỉ luật mình .Hôm sau chẳng ai hay, bắt xe lên tỉnh từ khi con gà chưa vỗ cánh trên hàng rào, Xoan chỉ biết khi nhặt được dưới của nhà nét chữ còn nguệch ngoạc "Tôi đi tìm thầy, gắng khỏe tốt cho đứa bé". Mấy hôm sau về đến cổng làng nghe tin Xoan vừa sinh con gái, Nam chạy một mạch đến trạm xá, lắc đầu trước con mắt mang hình dấu hỏi của Xoan.
Ngày thằng bé tròn tháng Nam đến nhà, đưa cho Xoan tấm ảnh của thầy, tấm ảnh được cắt ra, chắc thầy chụp cùng ai đó, Nam bảo:
-         Thầy mất vì bạo bệnh được mấy tháng rồi, trước tôi chưa dám nói vì sợ Xoan vừa sinh cháu không chịu nổi…
Xoan cầm bức ảnh nấc nghẹn, không thấy nước mắt chảy ra...
***
Ngắm cái Thắm hít hà ăn nốt chỗ canh chua cuối bát, cả Xoan và Thắm đều mỉm cười...
-         Ngày kia giỗ thầy, mời anh qua nhà ăn cơm với mẹ con, sẵn giúp tôi lớp lại cái chái sau nhà, đợt mày mưa giữ quá, sợ nó không có chịu nổi. Nghen...
Dứt lời Xoan nắm tay con đứng dậy vội vàng như sợ Nam trả lời, hai mẹ con đi ngược lên hướng đê, cái thắm còn chìa bàn tay nhỏ xíu ra vẫy vẫy, cười như nắng.
Còn lại một mình, Nam lặng châm điếu thuốc, miên man nghĩ rồi lôi từ cái hòm sắt cũ một nửa tấm ảnh, nửa tấm ảnh có hình một cô dâu Hà Nội 6 năm về trước. Nhủ lòng:
-         Đã đến lúc kể hết chưa ta???
 

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2010

Theo dấu ong rừng

Giờ đang là mùa mưa. Dòng Nậm Tôn ngầu đỏ hậm hực đổ về từ thượng nguồn, sáng đi làm qua cầu đã thấy nước lũ gầm gè đắc thắng dưới gầm xe. Thêm một đợt mưa nữa thôi là chiều không về nổi…
Đứng dưới thung nhìn ngước lên bao quát, vây kín chung quanh là những mảng mịt mù, núi hoá những vị thần già phơ phơ đầu bạc, trầm ngâm như đang xét tội loài người. Chốc chốc có tiếng K-tok ho khan, tiếng sấm đì đùng như quan toà gõ búa, ánh chớp sáng loà chưa kịp tắt, đã nghe tiếng nổ đinh tai từ phía ngọn Mồ Côi. Rùng mình nhớ cảnh đứa bé chăn trâu gần thác Sava cháy sém, xác con trâu làm đám, xác em phi phủ kín bê-tông, nơi này người dân vẫn tin cánh tay người bị sét đánh chỉ đường cho họ đến được mỏ lớn...

Nhác thấy đội ngũ văn phòng nhao nhác lao ra ngoài, hắn nhấc mạnh đôi ủng khỏi lớp bazan nhầy nhụa, bước phăm phăm trở về. 
Ong! Hình như đòn sét vừa nãy đã đánh trúng cây nào có tổ ong, chúng dáo dác bay và xông thẳng vào phòng làm việc. Loài ong vàng này có tiếng là hiếu chiến, chỉ cần ai đó xua tay đuổi là tấn công ngay, một mũi đốt có thể gây sưng tấy đau đớn mấy hôm liền, trừ phi có cỏ Na-khưa ngâm mật gấu xoa vào bằng không mặt mày nhăn nhó cả tuần là chuyện không lấy làm lạ. Hắn chỉ còn biết lao thẳng vào kho - còn đúng cách này mới mong thoát khỏi lũ điên đang tan nhà nát cửa - cầm cái máy hút bụi hắn chĩa thẳng nòng vào bầy ong, chỉ khi tiếng rồn rột của cánh ong va vào thành ống dứt, ai nấy mới kịp thở phào, tay giám đốc nước ngoài vỗ vỗ vào vai ra chiều cảm ơn lắm lắm. Nói "cậu đọc văn bản để nghỉ ngơi một chút!" Chết bầm, đọc văn bản còn là nghỉ ngơi, biết thế hắn đã chừa lại vài con trên cái đầu không quá nhiều tóc của lão...
Từ nãy giờ hắn vẫn để ý có tiếng vo vo chung quanh mình, vài người khác cũng có ý nhìn chung quanh tìm kiếm. Hẳn là có con ong nào trong đám vừa nãy thoát thân. Kia rồi, cu cậu đậu trên bậu cửa... Hắn vớ lấy tờ báo, cuộn tròn, rón rén như lính dò mìn tiến lại, vung tay...
Cứ mỗi lần hắn vung tay là nó lại bay vù đi mất. Lạ một nỗi nó không bay ra ngoài trời mà cứ quẩn quanh nơi văn phòng, chừng như nó nghĩ mình là máy bay cảm tử Trân Châu Cảng, hòng chơi hắn một nhát trả thù cho gia tộc.
Đến điên đầu lên mất, hắn gật đầu nhìn sếp ra hiệu, khoác thêm lên mình chiếc áo mưa đặc chủng bước ra ngoài. Trời vẫn mưa không dứt, tệ hơn nữa là từng đám mây đen kịt vây kín lấy bầu trời, mọi vật tối sầm đi, cách nhau 20m chắc khó nhận ra là ai trước mặt. Tiếng vo vo vẫn lảng vảng quanh mình, hắn lắc đầu thật mạnh rồi vuốt nước mưa trên mặt - "làm gì có con vật cánh mỏng nào bay được giữa mưa gió thế này?"
***
Chân tóc hắn dựng lên, quả thật có một chấm đen nhỏ xíu đang bay trước hướng đi của hắn. Nó bay chậm rãi, đồ như đợi hắn sánh cùng, mà cũng có thể sức gió và nước mưa làm giảm sức bay của nó. Dù sao hắn vẫn sợ, chốn thâm u luôn tồn tại những điều ma quái. Hắn không tin vào ma quỷ nhưng tận mắt hắn đã thấy ở phía kia - khuất sau ngọn Mồ Côi - con khỉ có bộ mặt không lông lá, vừa chuyền cành vừa cười sằng sặc. Lần thăm dò ấy trở về, hắn lên cơn phát ban, trong cơn mê sảng, hắn gặp con khỉ ngồi ôm một bộ xương người mà khóc. Bản Nà Xén có chuyện rằng mười mấy năm trước có người cướp vợ của một cai bưởng đá đỏ, bị truy đuổi ráo riết, biệt tích từ bấy đến bây giờ....
Đường đi mỗi lúc một lầy lội, muốn đến tận ngọn Mồ Côi phải đi qua một eo nhỏ tạo bởi hai hòn Sinh-Tử, gọi thế là vì hai ngọn núi kề nhau mà khác nhau trời vực, bên này cây cối xum xuê, có cả những cây sanh rễ trùm lên đá, hai vòng người ôm không xuể, bên kia trọi trơ, lại toang hoác những hang cat-tơ nhìn không tận đáy. Khi rải đá làm con đường qua eo, người ta đã đào được hàng chục bộ xương dê, giỏi leo trèo như loài dê núi mà gặp phải lũ rừng rồi cũng về với núi...
Hắn không hiểu cái gì đã xui khiến hắn bước về phía ngọn Mồ Côi, tiếng vo ve hay sự gàn dở của bản thân. Dù gì thì hắn cũng đã đến gần lắm rồi cái nơi vừa nãy lưỡi tầm sét buông xuống. Hắn vuốt mặt, cố nhìn chung quanh thật kĩ để tìm chấm đen nhỏ xíu ấy, không thấy gì! Mắt chỉ thấy mưa, tai chỉ nghe tiếng mưa!
Hắn định vị những lùm cây thấp ngang người bước tới, hắn được dạy rằng khi trời mưa không được đứng nơi trơ trọi, lại càng không nên đứng dưới gốc cây cao. Chọn một cây Săng Lẻ tầm tầm hắn dựa lưng vào, nước bắt đầu thấm qua áo mưa lạnh buốt...
Gió bắt đầu rít, những chiếc lá vỗ đồm độp vào nhau. Mưa quất từng cơn rát mặt, hắn khom mình, thầm rủa mình ngu dại. Ngu thì cũng muộn rồi - nếu muốn quay về.
Nhưng mưa lớn có nghĩa là không còn sấm sét. Hắn dò dẫm bước theo trí nhớ, chêch chếch hướng Bắc khoảng tầm hơn trăm mét là có ruộng ngô, những lần qua đây hắn đã từng nhìn thấy một lán canh. Khi con người đứng trước thiên nhiên mới hiểu được một tấm manh che chở quan trọng và thiết thực biết nhường nào...
Mùi khét càng lúc càng nồng nặc, hắn lè lưỡi để nếm thấy trong mưa vị mặn tro gianh.
Hoang tàn! Trụi trơ!
Một vạt đất hổng hoang giữa trùng trùng hàng Săng Lẻ. Hẳn đây là lán canh ngày nào hắn thấy, vương vãi dăm cọc tre ám khói... Hắn hoảng hồn toan bỏ chạy, mùi khét này, vị mặn mưa này hắn đã ngửi, đã nếm hôm lên xem xác thằng bé chăn trâu phía thác Sava. Nhưng chạy về đâu? đầu óc hắn quay cuồng, phương hướng bỏ rơi hắn rồi, mưa che khuất cả ngọn Mồ Côi, che khuất cả hòn Mồ Hôi... 
Vo vo, vo ve... Tiếng ong! Chú ong vàng không chết! 
Không biết làm cách nào nó về được đến đây giữa những trận bom nước kìn dày như nước mắt góa phụ non. Như kẻ đói ăn gặp ngày tảo mộ, hắn căng mắt để tìm một sinh linh - con vật hết lần này lần khác hắn muốn cướp đi quyền được sống. Mưa quá lớn, hắn chỉ biết nhắm mắt để định vị nơi âm thanh truyền đến và dò dẫm dời chân. 
Chân hắn chạm phải một chất dịch lỏng mềm...
Hắn rón rén ngồi xuống dần, bàn tay nhích từng li theo sống chân, những sợi lông tay dựng đứng lên không phải vì cái rét. Tay hắn chạm vào thứ chất sền sệt đó. Ơn giời, không phải là máu. Hắn nhận ra thứ chất sền sệt này, cả một đống to đùng nằm cạnh nữa. Đó là một tổ ong. Hắn điềm tĩnh lại, dùng cả 2 tay để bê cái tổ về phía gốc Săng Lẻ vừa nãy. Nặng quá, dễ phải đến cả yến mật chứ chả ít. Dẫu là ong nuôi, nhưng loại mật ong vàng này tốt có tiếng, người Thái ở đây nuôi nhiều nhưng ít khi dùng, họ để dành bán cho đầu nậu ở tít dưới thành phố lên. Giá một cân nghe đâu chừng tạ thóc. Họ lấy mật luôn, chừng vài cân là đã lấy rồi, vậy mà cái tổ ong này… chừng như người chủ của nó chưa lần nào lấy mật...
Bây giờ hắn mới nhìn kĩ lại cái tổ, khung gỗ méo hẳn sang một bên, những ô nhỏ kiểu tò vò bị biến dạng, vài lỗ còn dính lại xác mấy con ong thợ, chắc lúc rơi xuống không kịp bay ra ngoài. 
Tổ ong nào cũng có một con ong chúa, Bà Chúa này chỉ nằm một chỗ, công việc suốt một kiếp sống là đẻ, đẻ và đẻ. Thông thường nó nằm ở khoang chính giữa cái tổ...
Tiếng vo ve lại xuất hiện, là con ong đã dẫn đường cho hắn đến đây, nó bay đến và đậu ngay ở một lỗ cửa, không đếm xỉa gì đến hắn. Hai cái râu vẩy vẩy, ngo ngoe, rồi chui tọt vào trong. Hắn biết nó đang tìm Chúa. Loài ong thợ như những trung thần, Chúa ở đâu là nó ở đấy, không bao giờ bỏ vương quốc của mình. Hắn tìm cách gác cái tổ lên cao hơn, nơi có hai nhành Săng Lẻ chìa ra như chữ V, ngắt vài cái lá hòng che đi những giọt mưa lớn rơi từ ngọn xuống. 
Có tổ ong nuôi chắc phải có người, hắn dáo dác nhìn quanh kiếm tìm. Không gian vẫn lạnh te, tiếng mưa đã ngớt dần, chỉ còn tiếng tinh tích của những giọt nước đọng trên tán lá đang trở về với đất. Đầu óc hắn hiện lên hình ảnh con khỉ mang bộ mặt người. Hắn thấy sợ hãi, thực sự sợ hãi. Rồi hắn quay đầu chạy thục mạng, những nhành Hủn Gai cứa tươm cái áo mưa ngoài, hắn chạy mãi cho đến khi nhìn thấy ánh đèn pha phía con đường trước mặt. Những người trong công ty đã hết ca làm từ lâu, họ túa ra đi tìm hắn. Hắn ngất lịm đi trong cánh tay người công nhân đầu tiên hắn gặp…
Khi đã có thể đi làm được, vài lần hắn có chạy xe đến gần ngọn Mồ Côi ấy, loanh quanh tìm kiếm một hồi nhưng không thấy con đường hắn đã đi, không thấy cái ruộng ngô nào cả. Cây Săng Lẻ bị sét đánh ngang vẫn còn đó, nhưng chung quanh không thấy một tổ ong nào. 
Dạo này về đêm hắn hay nghe thấy tiếng vo ve, nhưng giấc mơ của hắn không có tiếng cười hay tiếng nấc nghẹn của con khỉ mặt người hắn từng gặp nữa. Duy chỉ có một lần vào đêm Rằm Tháng Bảy, hắn mơ thấy hai bộ xương trắng dựa bên nhau. Cái tổ ong nằm bên cạnh, chỉ có một con ong thợ bay ra bay vào. Con ong thợ chỉ ở tổ khi trong đó vẫn còn Bà Chúa của nó…

***
 阮慶 ***


Tây Nghệ An. 2006
8月。